CDMA công nghệ và phát triển
Lịch sử phát triển của mạng CDMA !!!
Code Division Multiple Access (CDMA), tiếng Việt gọi là phương thức Đa truy cập phân chia theo mã, là một kỹ thuật đa truy cập vào kênh truyền vật lý sử dụng kỹ thuật phân chia theo mã (code). Trong kỹ thuật CDMA, tín hiệu của mỗi người dùng (user) sẽ được dàn trãi (spreading) bằng 1 mã xác định trực giao (hoặc giả trực giao) với nhau. Tín hiệu truyền sẽ là tín hiệu chồng chập của nhiều người dùng khác nhau theo thời gian và trên cùng 1 băng tần số.
Kỹ thuật CDMA hiện đang được sử dụng rộng rãi trong các hệ thống điện thoại di động: IS95A/B, CDMA2000, WCDMA(UMTS)...
CDMA2000 là một họ chuẩn thông tin di động sử dụng công nghệ CDMA được chuẩn hóa bởi 3GPP2. CDMA2000 bao gồm 3 chuẩn chính: CDMA2000 1xRTT, CDMA2000 EV-DO, CDMA2000 EV-DV. CDMA2000 hoạt động trong dãi tần số 450 MHz, 700 MHz, 800 MHz, 900 MHz, 1700 MHz, 1800 MHz, 1900 MHz, và 2100 MHz.
CDMA2000 là công nghệ 3G tiếp nối của công nghệ 2G CdmaOne (hay IS-95) và được xem như là một đối thủ cạnh tranh với công nghệ 3G/UMTS. Tuy nhiên, CDMA2000 1xRRT thường được nhắc đến như là một công nghệ 2.5G (tương ứng với GPRS).
Lịch sử phát triển CDMA được bắt đầu bằng sự ra đời của lý thuyết truyền thông trải phổ trong thập niên 50. Với hàng loạt các ưu điểm đi kèm, truyền thông trải phổ được ứng dụng trong thông tin quân sự Hoa Kỳ trong những năm sau đó. Đến thập niên 80, CDMA được phép thương mại hóa và chính thức được đề xuất bởi Qualcomm, một trong những công ty hàng đầu về công nghệ truyền thông.
Năm 1995, CDMA IS-95A là phiên bản đầu tiên được triển khai thương mại tại Hồng Kông qua Hutchison Telecom và phiên bản có tốc độ truyền 14kbit/giây này được thừa nhận như một trong những hệ thống thuộc thế hệ thứ 2(2G).
Năm 1996 CDMA bắt đầu thống trị trên thị trường Bắc Mỹ.
Năm 1997, IS - 95B được đưa ra với nhiều cải tiến về chất lượng đồng thời tốc độ truyền đến 64 kbit/giây. Đây là thế hệ di động thứ 2,5. Cùng năm này, số thuê bao CDMA trên toàn thế giới vào xấp xỉ 8 triệu thuê bao.
Năm 1998, CDMA 2000 1x hỗ trợ cả thoại và dữ liệu được đưa vào dự thảo IMT2000
(International Mobile Telecommunication 2000 - Đề án Truyền thông Di động Quốc tế 2000) do ITU (International Telecommunication Union - Liên minh Viễn thông Quốc tế) soạn thảo định nghĩa cho tiêu chuẩn truyền thông thế hệ thứ 3 (3G). Thuê bao CDMA lên đến 24 triệu người trên toàn thế giới.
Năm 1999, CDMA 2000 1x được công nhận là 3G và chính thức được công bố. Cuối năm 1999, thế giới đã có hơn 50 triệu thuê bao CDMA.
Năm 2000, 2 nhà khai thác hàng đầu tại Hàn Quốc là SK Telecom và LG Telecom triển khai thương mại hệ thống CDMA 2000 1x đầu tiên trên thế giới. Thế giới có 80 triệu thuê bao CDMA.
Năm 2001, CDMA 2000 1x EV trở thành một chuẩn của 3G.Chỉ trong 3 tháng, từ tháng 6 đến tháng 9/2002: từ 127 triệu thuê bao, CDMA đã vượt qua con số 134 triệu thuê bao.
Quá trình hình thành và phát triển của công nghệ CDMA và GSM:
Di động thế hệ thứ 2 (2G)
GSM (công nghệ TDMA)
IS-95A (công nghệ CDMA)
Di động thế hệ thứ 2.5 (2,5G)
GPRS (nâng cấp từ GSM)
CDMA IS-95B
Di động thế hệ thứ 3 (3G)
WCDMA (nâng cấp từ GPRS)
CDMA 2000 1x
CDMA 2000 1x EV(HDR)
vậy công nghệ CDMA là gì
Thế kỷ 21 được xem như kỷ nguyên của thông tin kỹ thuật số với các dòng bit dịch chuyển toàn cầu, kết nối toàn thế giới. Và con người đã phải thừa nhận sự lệ thuộc của mình vào thế giới đa truyền thông kỹ thuật số (Multimedia) kỳ diệu này. Truyền thông di động cũng không nằm ngoài vòng kết nối đó với hàng loạt công nghệ tiên tiến tham gia phục vụ con người
.
Hiện có hơn 50 quốc gia trên thế giới triển khai ứng dụng công nghệ CDMA với trên 100 mạng.
GSM phân phối tần số thành những kênh nhỏ, rồi chia xẻ thời gian các kênh ấy cho người sử dụng. Trong khi đó thuê bao của mạng di động CDMA chia sẻ cùng một giải tần chung. Mọi khách hàng có thể nói đồng thời và tín hiệu được phát đi trên cùng 1 giải tần. Các kênh thuê bao được tách biệt bằng cách sử dụng mã ngẫu nhiên. Các tín hiệu của nhiều thuê bao khác nhau sẽ được mã hoá bằng các mã ngẫu nhiên khác nhau, sau đó được trộn lẫn và phát đi trên cùng một giải tần chung và chỉ được phục hồi duy nhất ở thiết bị thuê bao (máy điện thoại di động) với mã ngẫu nhiên tương ứng. Áp dụng lý thuyết truyền thông trải phổ, CDMA đưa ra hàng loạt các ưu điểm mà nhiều công nghệ khác chưa thể đạt được.
Việt Nam đang sử dụng hệ thống thông tin di động toàn cầu GSM dựa trên công nghệ
TDMA. Mạng sử dụng chuẩn GSM đang chiếm gần 50% số người dùng điện thoại di động trên toàn cầu. TDMA ngoài chuẩn GSM còn có một chuẩn khác nữa, hiện được sử dụng chủ yếu ở Mỹ latinh, Canada, Đông Á, Đông Âu. Còn công nghệ CDMA đang được sử dụng nhiều ở Mỹ, Hàn Quốc... Công nghệ đa truy nhập phân chia theo thời gian TDMA là công nghệ truyền sóng kỹ thuật số, cho phép một số người dùng truy nhập vào cùng một kênh tần số mà không bị kẹt bằng cách định vị những rãnh thời gian duy nhất cho mỗi người dùng trong mỗi kênh. Công nghệ này đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu ít tốn kém hơn CDMA. Còn công nghệ đa truy nhập phân chia theo mã CDMA là công nghệ trải phổ cho phép nhiều tần số được sử dụng đồng thời; mã hóa từng gói tín hiệu số bằng một mã khóa duy nhất và gửi đi. Bộ nhận CDMA chỉ biết nhận và giải mã. Công nghệ này có tính bảo mật tín hiệu cao hơn TDMA. Theo các chuyên gia CNTT Việt Nam, xét ở góc độ bảo mật thông tin, CDMA có tính năng ưu việt hơn.
Nhờ hệ thống kích hoạt thoại, hiệu suất tái sử dụng tần số trải phổ cao và điều khiển năng lượng, nên nó cho phép quản lý số lượng thuê bao cao gấp 5 - 20 lần so với công nghệ GSM. Áp dụng kỹ thuật mã hóa thoại mới, CDMA nâng chất lượng thoại lên ngang bằng với hệ thống điện thoại hữu tuyến. Đối với điện thoại di động, để đảm bảo tính di động, các trạm phát phải được đặt rải rác khắp nơi. Mỗi trạm sẽ phủ sóng một vùng nhất định và chịu trách nhiệm với các thuê bao trong vùng đó. Với CDMA, ở vùng chuyển giao, thuê bao có thể liên lạc với 2 hoặc 3 trạm thu phát cùng một lúc, do đó cuộc gọi không bị ngắt quãng, làm giảm đáng kể xác suất rớt cuộc gọi.
Một ưu điểm khác nữa của CDMA là nhờ sử dụng các thuật toán điều khiển nhanh và chính xác, thuê bao chỉ phát ở mức công suất vừa đủ để đảm bảo chất lượng tín hiệu, giúp tăng tuổi thọ của pin, thời gian chờ và đàm thoại. Máy điện thoại di động CDMA cũng có thể sử dụng pin nhỏ hơn, nên trọng lượng máy nhẹ, kích thước gọn và dễ sử dụng.
Trong thông tin di động, thuê bao di động di chuyển khắp nơi với nhiều tốc độ khác nhau, vì thế tín hiệu phát ra có thể bị sụt giảm một cách ngẫu nhiên. Để bù cho sự sụt giảm này, hệ thống phải điều khiển cho thuê bao tăng mức công suất phát. Các hệ thống analog và GSM hiện nay có khả năng điều khiển chậm và đơn giản, thuê bao không thể thay đổi mức công suất đủ nhanh, do đó phải luôn luôn phát ở công suất cao hơn vài dB so với mức cần thiết. Tuy nhiên, để sử dụng mạng điện thoại di động CDMA, người dùng phải trang bị thiết bị đầu cuối phù hợp với công nghệ của mạng. Chi phí cho thiết bị đầu cuối CDMA hiện nay khoảng 200 USD - 1.000 USD tùy công năng của máy, trong tương lai giá sẽ thấp hơn. Trong vấn đề bảo mật, CDMA cung cấp chế độ bảo mật cao nhờ sử dụng tín hiệu trải băng phổ rộng. Các tín hiệu băng rộng khó bị rò ra vì nó xuất hiện ở mức nhiễu, những người có ý định nghe trộm sẽ chỉ nghe được những tín hiệu vô nghĩa. Ngoài ra, với tốc độ truyền nhanh hơn các công nghệ hiện có, nhà cung cấp dịch vụ có thể triển khai nhiều tùy chọn dịch vụ như thoại, thoại và dữ liệu, fax, Internet...
Không chỉ ứng dụng trong hệ thống thông tin di động, CDMA còn thích hợp sử dụng trong việc cung cấp dịch vụ điện thoại vô tuyến cố định với chất lượng ngang bằng với hệ thống hữu tuyến, nhờ áp dụng kỹ thuật mã hóa mới. Đặc biệt các hệ thống này có thể triển khai và mở rộng nhanh và chi phí hiện thấp hơn hầu hết các mạng hữu tuyến khác, vì đòi hỏi ít trạm thu phát.
Tuy nhiên, những máy điện thoại di động đang sử dụng chuẩn GSM hiện nay không thể sử dụng chuẩn CDMA. Nếu tiếp tục phát triển GSM, hệ thống thông tin di động này sẽ phải phát triển lên WTDMA mới đáp ứng được nhu cầu truy cập di động các loại thông tin từ mạng Internet với tốc độ cao, thay vì với tốc độ 9.600 bit/giây như hiện nay, và so với tốc độ 144.000 bit/giây của CDMA.
Ứng dụng của CDMA
Khi cho ra đời công nghệ CDMA sử dụng trong viễn thông vô tuyến, nhà phát minh Qualcomm tin rằng không bao lâu sau thế giới sẽ thu gọn vào trong túi của mỗi người. Điều đó đã nhanh chóng trở thành hiện thực.
Ngày xưa, muốn xem phim chúng ta phải đến rạp chiếu phim, sau đó công nghệ vô tuyến truyền hình ra đời, chúng ta có thể xem ngay tại nhà qua màn ảnh ti vi. Hiện nay, chúng ta cũng có thể xem phim và nhiều thứ khác nữa qua màn ảnh rất nhỏ của chiếc điện thoại di động bỏ gọn trong túi quần. Dĩ nhiên điều kỳ diệu ấy chỉ thực hiện được với những ai có chiếc điện thoại di động sử dụng công nghệ 3G-CDMA.
Ông Frank Meng, chủ tịch Qualcomm Trung Quốc.
Với điện thoại di động sử dụng công nghệ CDMA, không những bạn xem được phim ảnh và tin tức của các chương trình truyền hình mà còn hưởng thụ được những điều kỳ diệu khác. Bạn có thể nói chuyện và thấy mặt người đối thoại ở cách xa hàng vạn dặm; bạn đang lang thang ở bất cứ nơi nào cũng có thể đọc được tiểu thuyết, truy cập thông tin trên Internet, xem giá chứng khoán, giá vàng, viết thư cho bạn bè và làm được một đoạn phim về nơi bạn đang có mặt để gửi về cho người thân ở quê nhà.
Ngược lại, khi đang ở xa, bạn cũng có thể thấy được trực tiếp những hình ảnh đang diễn ra ở ngay trong nhà bạn. Nếu các thiết bị trong nhà bạn nối mạng Internet, bạn có thể từ bên Mỹ điều khiển việc tưới cây trong vườn, chỉnh tắt máy lạnh, âm thanh, hệ thống đèn trong nhà bạn ở TP HCM, thậm chí có thể nấu một bữa ăn cho gia đình nếu nhà bạn có trang bị một bếp ăn thông minh kết nối với Internet. Do vậy sẽ không quá lời nếu nói rằng bạn có một chiếc điện thoại CDMA có nghĩa là bạn đang có cả thế gian trong túi.
Đông đảo khách hàng tham quan triễn lãm công nghệ CDMA tại Bắc Kinh 10/2004.
Những điều kỳ diệu đó đã được hàng chục triệu người đang sử dụng điện thoại CDMA thụ hưởng ở Hàn Quốc, Nhật Bản, Bắc Mỹ, châu Âu. Không đâu xa, ngay tại Trung Quốc láng giềng của ta, đã có 43 triệu người sử dụng điện thoại di động CDMA và bây giờ họ đã được xem các chương trình truyền hình qua màn ảnh của chiếc điện thoại cầm tay. Tại cuộc triển lãm viễn thông quốc tế mới đây ở Bắc Kinh, các nhà sản xuất điện thoại di động Trung Quốc đã giới thiệu hàng loạt mẫu điện thoại mới sử dụng công nghệ CDMA với những chức năng hiện đại cho phép người sử dụng làm được mọi điều kỳ diệu như đã nói ở trên.
Tuy mới xuất hiện trong vòng vài năm trở lại đây nhưng đã có 46 quốc gia và vùng lãnh thổ sử dụng công nghệ CDMA với số lượng khách hàng lên đến 128 triệu.
Ông Luis Pineda - Phó chủ tịch tiếp thị và quản lý sản phẩm của Qualcomm CDMA cho Thanh Niên biết: "Công nghệ CDMA đang phát triển với tốc độ cao theo cả bề rộng lẫn bề sâu. Số nhà khai thác đã lên đến 108 với số người sử dụng ngày càng đông và sắp đạt đến con số 130 triệu thuê bao. Hiện nay Qualcomm đã cho xuất xưởng loại chipset mới giúp cho chiếc điện thoại di động CDMA thực hiện được những chức năng đa dạng như: đồ họa 3D, quay và chiếu video, chụp ảnh, xem ti vi, điện thoại truyền hình, truy cập Internet, định vị, nối mạng GSM...
Những chiếc điện thoại như vậy mang nhãn hiệu của hầu hết các nhà sản xuất thiết bị đầu cuối lớn trên thế giới mà mọi người đang thấy tại triển lãm công nghệ viễn thông Bắc Kinh 2004".
Ở Việt Nam, phải khó khăn lắm công nghệ CDMA mới được đưa vào khai thác để phục vụ người dân. Khách hàng thuê bao của S-Fone hiện nay cũng mới chỉ sử dụng điện thoại để... điện thoại, truy cập Internet, chụp ảnh, quay phim, nghe nhạc, hát karaoke... Thế nhưng vẫn còn nhiều ứng dụng khác của CDMA mà các nhà khai thác ở ta chưa đưa vào cung cấp cho khách hàng. Tuy nhiên với tốc độ hòa nhập nhanh chóng với thế giới hiện đại của Việt Nam hiện nay, không bao lâu nữa những khách hàng của các hãng điện thoại CDMA cũng sẽ bỏ vào túi quần mình cả một thế giới thông tin.
CDMA Việt Nam tăng trưởng như thế nào?
TP.HCM , 30 tháng 1 năm 2008 . "Thành tựu của công nghệ CDMA 1X & EV-DO trong năm 2007" là chủ đề buổi họp báo sáng nay được tổ chức bởi Ông Hoàng Ngọc Diệp ,Giám Đốc Kinh Doanh Cao Cấp đại diện tập đoàn Qualcomm tại Việt Nam .
Buổi họp báo còn có mặt các quan chức cao cấp nhất của hai nhà cung cấp dịch vụ CDMA ở Việt Nam là S-Fone và EVN Telecom.
Tính đến tháng 9 năm 2007 , trên thế giới đã có gần 500 triệu thuê bao CDMA 2000 1X&EV-DO trải rộng ở 99 quốc gia và lãnh thổ .Trong đó khu vực Châu Á Thái Bình Dương là khu vực phát triển năng động nhất và chiếm đến 49% tổng lượng các thuê bao .
Các thị trường mới nổi như Ấn Độ và Indonesia đã có những bước phát triển đáng khích lệ .Ở Ấn Độ ,giá cả các thiết bị đầu cuối CDMA đã rẻ hơn các thiết bị của GSM ,thậm chí đã có máy đầu cuối với giá 19 USD với nhiều ứng dụng BREW .Có tới 60 nhà phát triển các ứng dụng cho di động dựa trên nền BREW ở Ấn Độ ,trong đó Tata là nhà cung cấp thuộc TOP 5 trong nước và TOP 10 các nhà operator 3G CDMA trên thế giới . Ở Indonesia ,đã có tới 6 nhà cung cấp dịch vụ CDMA200 với tổng cộng 14 triệu thuê bao ( tăng 75%) .
Đáng kế nhất là CDMA ở Trung Quốc, thị trường lớn nhất Châu Á với nhà cung cấp China Unicom đang triển khai các dịch vụ giá trị gia tăng CDMA hiệu quả trên nền BREW với tên gọi riêng ở Trung Quốc là U-magic.CÁc dịch vụ VAS đang triển khai ở Trung Quốc rất đa dạng như MObile Stock,Music and ring tone, Offline Game,Online Game ,Mobile TV,Picture and cartoon ,life and Entertainment,Enterprise application....
Qualcomm cũng đã thông báo về việc sản xuất 1 chip CDMA chung cho cả hai hệ thống CDMA 450 Mhz và 800 MHz .
Theo điều tra nghiên cứu độc lập của GfK ,một tổ chức nghiên cứu uy tín ,số lượng thuê bao CDMA ở Việt Nam trong năm 2007 đã phát triển tăng 216% .Trong đó chủ yếu là các thuê bao của S-Fone và EVN Telecom.Tình hình xin chuyển sang GSM của HT Mobile vào cuối tháng 12 vừa qua ảnh hưởng không đáng kể đến sự phát triển của CDMA Việt Nam bởi thuê bao thực của HT Mobile chỉ dưới 200 ngàn .
Cũng trong buổi họp báo sáng nay ,các ông Đổ Văn Quất , Hồ Hồng Sơn đại diện cho S-Fone , ông Nguyễn Thanh Hải ,đại diện EVN Telecom đã trả lời thẳng thắng và chi tiết các thắc mắc ,hỏi đáp của các phóng viên đại diện cho hơn 35 tờ báo,hãng thông tấn Việt Nam . didongCDMA.com sẽ trình bày chi tiết hơn về các vấn đề này trong diễn đàn .
Ứng dụng di động CDMA ứng dụng Âm Nhạc
Điện thoại CDMA 2000 trở thành máy chơi nhạc di động nóng nhất tại Nhật Bản.
Nhạc chuông, tải về các bài hát, video âm nhạc và các hình thức khác của âm nhạc là trong số những ứng dụng nóng nhất của điện thoại di động, đặc biệt tại những thị trường tinh vi và thời trang như Nhật Bản, nơi 79% người dùng di động có điện thoại 3G. Với một danh mục sản phẩm nhiều thế mạnh, dòng rộng rãi của các thiết bị cầm tay có công năng âm nhạc và mạng phủ sóng toàn quốc để hỗ trợ các tốc độ băng rộng thực sự hầu hết mọi nơi, KDDI đã thống trị các đối thủ cạnh tranh của mình tại thị trường này và đã lập nên một doanh nghiệp thịnh vượng.
KDDI đã trở thành một nhà tiên phong trong công nghiệp âm nhạc di động khi họ khai trương dịch vụ tải về âm nhạc Chaku – Uta trên mạng CDMA2000 1X vào năm 2002. Dịch vụ này cho phép người dùng tải về những clip âm nhạc ngắn có chất lượng CD (đến 30 giây) để dùng làm nhạc chuông. Chaku – Uta quá phổ biến đến nỗi trở nên động cơ chính của nỗ lực thành công của KDDI để khuyến khích khách hàng chuyển đổi sang 3G.
Xây dựng trên sự thành công đầy kịch tính, cam go của mình trong việc đưa ra các dịch vụ âm nhạc, KDDI đã giới thiệu EZ Chaku – Uta Full vào tháng 11/2004, cho phép khách hàng của họ tải về những bài hát đầy đủ trên mạng EV – DO băng rộng tốc độ cao vừa khai trương của họ. EZ Chaku – Uta Full cung cấp trên 400.000 bài hát và video âm nhạc ngày nay.
Nhưng Chaku – Uta Full không phải là đột phá duy nhất của KDDI vào âm nhạc di động. Lismo, được khai trương vào tháng 1/2006, có trên 2000 video âm nhạc từ các ban nhạc và nghệ sĩ hàng đầu Nhật Bản. Những ví dụ hấp dẫn khác là Chaku – Melo, một download giai điệu đơn giản, và Digital Radio làm nổi bật audio chẩt lượng CD trong nhiều thể loại, gồm jazz và nhạc cổ điển, cũng như thông tin văn bản về bài hát đang chơi trên thiết bị di động.
Để thực hiện việc cung cấp âm nhạc chất lượng cao, KDDI tiếp tục xây dựng dòng điện thoại âm nhạc của mình với những cộng nghệ mới nhất và những kiểu dáng hấp dẫn. Ví dụ là kiểu dáng Sony Ericsson Walkman W52S, gồm bộ nhớ 2GB để lưu trữ hàng trăm bài hát. W52S cũng có một máy phát để gởi âm nhạc đến một máy thu thanh ở gần, vì vậy nghe để tải về những bài hát trong lúc lái xe không cần mang tai nghe. Và với bộ pin có tuổi thọ 110 giờ, W52S không hết điện khi âm nhạc đang chơi. Một ví dụ khác nữa là kiểu Sharp Aquos W51SH, có màn hình 3 inch, lý tưởng để xem video âm nhạc.
Nhà dẫn đầu về phân phối âm nhạc trực tuyến tại Nhật Bản….
KDDI đã đầu tư vào sự đam mê âm nhạc của Nhật Bản để xây dựng kinh doanh bùng nổ. Mười ba tháng sau khi Chaku – Uta Full được khai trương vào tháng 11/2004, khách hàng đã tải về 30 triệu bài hát và vào tháng 2/2007, con số này đã lên đến 100 triệu . Dịch vụ Digital Radio của KDDI đã vượt quá mốc thuê bao 1 triệu vào tháng 5/2007.
Âm nhạc di động chiếm 90% của phân phối âm nhạc trực tuyến tại Nhật Bản và theo MCI, trong năm 2006 các nhà khai thác di động đã tạo ra 652 triệu USD trong download clip âm nhạc và download âm nhạc đầy đủ, tăng 35% mỗi năm. Nhãn hiệu “au” của KDDI đã đạt 67% của thị trường.
KDDI LÀ ÂM NHẠC CHO KHÁCH HÀNG VÀ CÁC NGHỆ SĨ
KDDI không chỉ đang xác định việc cung cấp âm nhạc đi động, mà còn cách mạng hóa toàn bộ công nghiệp âm nhạc của Nhật Bản. Một số điều cần được học hỏi từ sự thành công của KDDI.
Một bài học là giá trị của CDMA 2000: Với EV-DO, KDDI có những tốc độ băng rộng cần thiết để cung cấp hiệu quả cho người sử dụng chất lượng cao cho cả hai loại video audio và âm nhạc. Và với phủ sóng EV-DO toàn quốc, KDDI cung cấp cho khách hàng truy cập những dịch vụ này bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, với một trải nghiệm vô cùng nhất quán. Các nhà khai thác di động khác tại Nhật Bản hiện nay chỉ bắt chước theo.
Bên cạnh đó, KDDI cũng đã xây dựng một thư viện âm nhạc khổng lồ qua các dịch vụ EZ Chaku – Uta Full, Lismo, Digital Radio của mình. Giữa 4 dịch vụ này, khách hàng có thể chọn gần nửa triệu bài hát và video âm nhạc qua những thể loại thương hiệu và nghệ sĩ khác nhau – Một bộ sưu tập mà chỉ có một vài công ty trong thị trường âm nhạc Nhật Bản có thể vươn tới.
KDDI cũng tạo thuận lợi cho khách hàng dễ dàng tìm bài hát, nhận thông tin và tải chúng về hoặc mua trọn bộ đĩa CD. Ví dụ, muốn làm cho người tiêu dùng EZ Chaku – Uta Full dễ tìm những bài hát họ đang tìm, KDDI kết hợp dịch vụ với EZ Music, một cổng web và site “au Record”, tại đây người dùng có thể mua các CD. EZ Chaku – Uta Full gồm có Now On – Air Information, giúp người sử dụng nhận được những chi tiết về các bài hát đang chơi trên EZ FM, một dịch vụ truyền radio FM di động.
Thuê bao cũng có thể nhận thông tin về các bài hát họ nghe, nhưng không biết tên hoặc nghệ sĩ hoặc tựa bài hát, thông qua Song Search, một ứng dụng đã được phát triển bởi Gracenote ở Hoa Kỳ dùng công nghệ BREW. Phần mềm Song Search đặt trong điện thoại di động và “nghe” âm nhạc, dù nó đang chơi tại một câu lạc bộ hoặc trên một “sô” TV, rồi so sánh audio đã thu với một cơ sở dữ liệu của âm nhạc để tìm ra tựa đề bài hát. Khi đã biết được bài hát, người dùng có thể download chúng hoặc đặt mua CD đó.
Nhờ giúp người tiêu dùng một cách dễ dàng để nhận được rất nhiều thể loại âm nhạc – bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu – KDDI đã đi tiên phong trong công nghiệp âm nhạc di động. Đối với các nghệ sĩ và các thương hiệu thu âm, điều đó mở ra một thế giới mới cho một kinh doanh tiềm năng.
“ Sự nâng cấp lên CDMA2000 1xEV-DO đã giúp KDDI cung cấp nhiều dịch vụ mới, quan trọng nhất là Chaku – Uta (clip âm nhạc 20 – 30 giây) và Chaku – Uta Full (bài hát đầy đủ) là những download âm nhạc di động, ra đời khoảng 2 năm rưỡi sớm hơn DoCoMo” – Eurotechnology Japan, một công ty phân tích độc lập.
Thông tin về KDDI
KDDI là một công ty thông tin và truyền thông hàng đầu tại Nhật Bản và trên thế giới, cung cấp rất nhiều dịch vụ cố định và di động. Các dịch vụ di động là mảng kinh doanh lớn nhất và tăng trưởng nhanh nhất, chiếm ¾ doanh thu của KDDI và đa số lợi nhuận của họ.
CDMA2000 tiếp tục cung cấp cho KDDI một thuận lợi đáng kể trong thị trường di động Nhật Bản rất cạnh tranh, nơi họ tiếp tục đạt thị phần và dẫn đầu trong doanh thu dữ liệu. Cuối tháng 6/2007, KDDI đã có trên 28 triệu thuê bao và nhắm đạt thị phần 30%.
Gần như tất cả thuê bao KDDI đều dùng dịch vụ 3G CDMA2000, và 57% trong số họ có điện thoại di động băng rộng EV-DO. Trên 85% khách hàng của họ dùng dịch vụ dữ liệu di động EZ, và dữ liệu đã chiếm 33% chi tiêu của một khách hàng trung bình. Nội dung và media là những kinh doanh tăng trưởng nhanh nhất của nhà khai thác này, tạo ra gần 259 triệu USD trong doanh thu mỗi năm, tăng trưởng 150% so với năm trước.
KDDI sẽ tiếp tục phát triển các công năng CDMA2000 để hỗ trợ các dịch vụ thông tin liên lạc hội tụ “Ultra 3G” thế hệ kế tiếp cho khách hàng của mình.
Osaifu-keital là một thương hiệu có đăng ký của DoCoMo, CDMA2000 là thương hiệu có đăng ký của Hiệp hội Công nghiệp Viễn thông (TIA).
Công nghệ CDMA450 -Cơ hội kiếm tiền
Cuộc chạy đua kiếm tiền của các nhà cạnh tranh tại các thị trường chính Châu Âu thông qua công nghệ CDMA450.
Các nhà khai thác tại Cộng hòa Séc, Rumani, Nga, Thụy Điển, Na Uy, Đan Mạch và Ukraine đang đạt thị phần và tăng ARPU (Average Revenue Per User) nhờ những thuận lợi cạnh tranh độc đáo của CDMA450.
Công nghệ vô tuyến kỹ thuật số 3G tiên tiến có nhiều tiện ích, và đối với một số nhà khai thác Châu Âu, CDMA2000 hoạt động trong băng tần số 450 MHz, được gọi là CDMA450, đang chứng tỏ là một thành công tuyệt vời tại một trong những thị trường di động cạnh tranh nhất thế giới.
Xuất hiện lần đầu tiên tại Hungary trong giai đoạn thử nghiệm vào tháng 9/2000 thực hiện bởi Westel Radiotelephon dùng trang thiết bị do Lucent Technology (nay là Lucent-Alcatel) cung cấp, giải pháp CDMA450 đầu tiên trên thế giới đã làm ngạc nhiên nhiều nhà quan sát bằng việc chứng minh một mức tăng dung lượng 2.200% so với các mạng analog chuẩn của Nordic Mobile Telephone (NMT).
Từ đó, giải pháp đã được thương mại hóa tại 14 nước khắp lục địa Châu Âu và nước Nga, với 3 nước nữa trong vùng để sớm cung cấp dịch vụ CDMA450. Giải pháp Điện thoại vô tuyến và kết nối băng rộng kinh tế cao này tiếp tục nhận được động lực tại cả hai thị trường đã phát triển và mới nổi trên khắp thế giới với gần 100 mạng thương mại tại trên 50 nước.
Nhờ những đặc tính độc đáo của truyền sóng tại đầu dưới của băng tần vô tuyến, sóng CDMA450 xâm nhập các tòa nhà tại những vùng đô thị đông đúc và cung cấp phủ sóng của mỗi ô tăng lên đáng kể tại những vùng nông thôn rộng rãi, giúp các nhà khai thác thực hiện thời gian đưa ra thị trường nhanh hơn nhiều và những tiết kiệm lớn trong đầu tư cố định (cần ít trạm gốc di động hơn) khi xây dựng hạ tầng mạng và những chi phí khai thác về sau.
Công nghệ tạo khác biệt thực sự
Johan Lodenius, chủ tịch NMT là người tin vào giá trị của CDMA450 và công ty ông đang đặt cược lớn vào khả năng của giải pháp này giúp tạo khác biệt giữa công ty và các hãng đối thủ, nhiều nhà khai thác đã hoạt động trong nhiều năm.
Nordisk đã quyết định cung cấp những dịch vụ băng rộng di động tiện lợi, nhanh và hiệu quả cho khách hàng ở khắp vùng Thụy-Na-Đan (Thụy Điển, Na Uy, Đan Mạch - Scandinavian) và đang trong giai đoạn cuối cùng chuẩn bị triển khai dịch vụ bấm-để-nói năng suất cao nhắm vào các cơ quan mục tiêu trong khu vực dịch vụ khẩn cấp và những công nhân thường xuyên di chuyển trong lĩnh vực doanh nghiệp.
Một trong những nhà sáng lập của công ty này (NMT), Lodenius chỉ ra rằng những ô (cell) 450 MHz trên mạng Nordisk cung cấp vùng phủ sóng gần gấp 25 lần so với các mạng 3G khác đang hoạt động trong băng 2100 MHz. “Dẫu sao, chúng tôi có phủ sóng tốt nhất. Chúng tôi đã có thể chọn bất cứ công nghệ nào khác, nhưng không có công nghệ nào cho chúng tôi ngân sách kết nối RF và hiệu suất băng tần mà chúng tôi nhận được như từ mạng này”.
Là nhà khai thác mới gia nhập thị trường di động Châu Âu, NMT đã khai trương mạng đầu tiên của họ tại Na Uy mới được 2 năm vào mùa Hè 2006, theo sau là những nhà khai trương mạng CDMA450 nữa tại Thụy Điển và Na Uy vào 2007. Ngoài khu vực Scandinavian (Thụy-Na-Đan), NMT cũng đã được cấp phép băng tần 450 MHz tại Ba Lan, Ireland và Iceland.
Với một khai trương thương mại dự kiến tại Ba Lan cuối năm nay, NMT đang tăng trưởng nhanh và dịch vụ băng rộng di dộng ICE của họ đang nhanh chóng được công nhận thương hiệu như là một ứng viên lớn trong lĩnh vực viễn thông. Dịch vụ băng rộng này giúp khai thác một công nghệ dễ triển khai và ưu việt về mặt công nghệ so với những cung ứng của đối thủ. Ngày nay, công ty đang phủ sóng khoảng 90% diện tích địa lý của Thụy Điển với hơn 300 trạm gốc và nhanh chóng tăng vùng phủ sóng trong toàn bộ khu vực Thụy-Na-Đan.
Lodenius lưu ý rằng: “Chúng tôi đã mất chưa trọn 1 năm để đạt các mục tiêu phủ sóng tại mỗi thị trường khu vực Scandinavian nhanh hơn nhiều so với các công nghệ khác”,.
Dịch vụ dữ liệu băng rộng băng rộng EV-DO đầu tiên trong băng 450 MHz tại Châu Âu
Eurotel (nay là Telefonica 02) đã khai thác một dịch vụ analog trong băng 450 MHz (gọi là NMT-450) từ đầu thập niên 90. Tại Cộng hòa Séc, Telefonica 02 đã ngừng một mạng analog cũ vào mùa hè 2006, khai trương một dịch vụ băng rộng di động “chỉ có dữ liệu” để được thuận lợi về công năng EV-DO tốc độ cao trong băng 450 MHz.
Dịch vụ mới này đã phổ biến. Trước cuối tháng 3/2008, Telefonica đã được loan báo tổng số khách hàng dữ liệu (GPRS, CDMA và UMTS) đã tăng 17,9% trong năm, được 205,000.
“Mục tiêu của chúng tôi là tiếp tục nhận thuận lợi về băng tần mà không phải cạnh tranh trực tiếp với các doanh nghiệp khác”, theo lời Eduard Eck, Trưởng phòng Chiến lược Kỹ thuật của Telefonica. “Và công ty đã hoạt động tốt khi chúng tôi cung cấp các dịch vụ cố định, ADSL, IPTV, GSM, GPRS, UMTS và WiFi. Chúng tôi là nhà khai thác đầu tiên cung cấp dịch vụ băng rộng EV-DO trong băng 450 MHz tại Châu Âu”.
Là một công ty có nhiều công nghệ đầu tiên, Telefonica là công ty đầu tiên tại Châu Âu cung cấp EV-DO Rel.0 từ tháng 8/2004. Sau đó, năm 2006, Nortel và Telefonica đã trình diễn thành công cuộc gọi EV-DO Rev.A đầu tiên trên thế giới trong một mạng thương mại dùng băng 450 MHz.
Năm nay, công ty đã khai trương thương mại Rev.A, giúp khách hàng truy cập các dịch vụ dữ liệu băng rộng, với tốc độ cao hơn nhiều, tạo một sự chọn lựa lý tưởng cho kết việc nối ADSL tại những vùng xa và hỗ trợ những ứng dụng nặng về dữ liệu như gởi/nhận những tập tin đa phương tiện lớn hoặc những đính kèm email trong lúc di chuyển. Hiện nhờ EV-DO Rev.A, dịch vụ băng rộng rất phổ thông của công ty dùng những thẻ dữ liệu và modem USB để giúp cho người dùng PC và laptop kết nối Internet dễ dàng bất cứ ở nhà hay đang di chuyển.
Như Eck giải thích: “Chúng tôi có một số thói quen của người tiêu dùng độc đáo tại Cộng hòa Séc. Nhiều người ở đây có nhà nghỉ cuối tuần ở nông thôn. Họ thích dịch vụ chúng tôi vì họ có thể tiếp tục dùng nó khi họ rời thành phố đi nghỉ cuối tuần”.
Khai trương dịch vụ đã khuấy động thị trường và các đối thủ cạnh tranh đã theo sau với những cung ứng dữ liệu tốc độ cao của họ. Tuy nhiên, Telefonica còn hưởng một số thuận lợi do nền công nghệ CDMA đem lại, phát xuất từ mức sử dụng mạnh mẽ của thị trường và tăng trưởng ARPU vững chắc.
Giải pháp đúng, Thị trường đúng, Thời điểm đúng
Tiếng vang từ những kinh nghiệm của NMT, Eduard Eck chỉ ra rằng Telefonica đã có thể khai trương mạng EV-DO trong vòng chỉ có 4 tháng sau khi quyết định.
Quyết định chọn EV-DO được dựa trên một số yếu tố. “Thật là một kinh doanh rủi ro khi làm một điều gì đó trước đây chưa được làm tại Châu Âu. Do đó, chúng tôi đã không muốn chọn điều gì mà không-tiêu chuẩn”, Eck lưu ý. Telefonica đã chọn EV-DO vì nó được chuẩn hóa cao, hỗ trợ tốt bởi những nhà cung cấp thiết bị lớn và có một kỷ lục thành công với các nhà khai thác lớn tại Châu Á và Bắc Mỹ.
Eck nói: “Cho đến nay EV-DO đã cung cấp hiệu suất băng tần tốt nhất trong tất cả công nghệ được sử dụng thương mại. Nó đã cung cấp cho chúng tôi một thuận lợi cạnh tranh quan trọng. Chúng tôi được may mắn vì giải pháp này đã được sử dụng đúng lúc. Công nghệ đã được cung cấp đúng lúc, như đã hứa, không giống như trường hợp của nhiều công nghệ khác mà chúng tôi đã thấy”.
Một ngạc nhiên cho nhóm Telefónica là một tổng hợp giữa các khách hàng thành thị và nông thôn gần bằng nhau. Như Eck giải thích: “Lúc đầu chúng tôi nghĩ rằng dịch vụ băng rộng sẽ chủ yếu được dùng ở nông thôn nơi không có giải pháp khác. Trước sự ngạc nhiên của chúng tôi là điều đó không phải như vậy vì khách hàng chúng tôi trở nên quen thuộc với thuận tiện khi có thẻ trong laptop và họ chỉ trả phí hàng tháng nhất định. Cho nên việc dùng mạng của chúng tôi gần như được phân phối đều giữa dân cư thành thị và dân cư nông thôn”.
Đạt doanh thu từ các nhà phát minh
Cuối năm 2007, số người dùng băng rộng tốc độ cao tại Cộng hòa Séc đạt gần mốc 1,5 triệu, tượng trưng cho một mức sử dụng băng rộng là 14,4% trong nước. Các nhà khai thác ở đó và ở khắp Châu Âu ngày càng tập trung chú ý vào các cơ hội tạo doanh thu từ truy cập Internet băng rộng và các dịch vụ giá trị gia tăng (GTGT).
Telefonica tại Cộng hòa Séc đã báo cáo rằng doanh thu trung bình trên những người dùng (ARPU) dữ liệu không có SMS tượng trưng cho 43% của ARPU dữ liệu tổng cộng trong quý 1/2008 so với 41% trong quý 1/2007 do kết quả tăng trưởng trong các khách hàng dữ liệu di động.
NMT đã kiếm được 20% của thị phần băng rộng di động của Na Uy khoảng 1 năm sau khi khai trương dịch vụ. Lodenius nói: “Chúng tôi đã có thể bắt kịp rất nhanh một số công ty GSM đã hoạt động trong nhiều năm”.
Khi được hỏi về doanh thu ở các mạng đang tăng trưởng nhanh của Nordish, ông nói: “Lợi nhuận thay đổi theo thị trường, nhưng nói chung chúng tôi có ARPU cao hơn các công ty khác chút ít. ARPU của chúng tôi hiện nay là khoảng 50USD”.
Vì NMT cung cấp phủ sóng và năng suất tốt nhất, nên họ còn có thể cung cấp những dịch vụ định vị tốt nhất. Lodenius giải thích: “Tất cả ĐTDĐ của chúng tôi đều hỗ trợ gpsOne cho dịch vụ định vị. Và chúng tôi đã khai trương nhiều ứng dụng nhắm vào thị trường dịch vụ định vị đang tăng trưởng”.
Bí mật của thành công?
Được khai trương thương mại vào năm 2001 tại Rumani, CDMA450 tiếp tục nhận động lực thúc đẩy ở đó, tại Liên bang Nga và tại các nước khác ở khắp Đông Âu. Trong những thành công lớn đó có Sky Link của Nga, vừa nâng cấp mạng lên EV-DO tại 26 vùng, gồm 5 vùng lên Rev.A, để đáp ứng nhu cầu đang tăng về dữ liệu băng rộng di động tại các thị trường đô thị lớn của Nga. Sky Link, có 50% sở hữu của JFSC Sisterna (sở hữu mạng GSM lớn nhất tại Nga), có giấy phép cung cấp dịch vụ di động tại hầu hết 88 vùng ở Nga, nơi có trên 80% dân số Nga.
“Dung lượng mạng công nghiệp CDMA đứng đầu giúp chúng tôi cung cấp một cách tiết kiệm những lượng đáng kể dịch vụ thoại và dữ liệu cho thị trường mục tiêu của chúng tôi gồm các khách hàng sử dụng nhiều, và linh hoạt mạng của nó cho phép chúng tôi cung cấp những dịch vụ này trong một môi trường di động và vô tuyến cố định, bất chấp mọi địa hình”, theo giải thích của Gulnara Khasyanova, Giám đốc Điều hành của Sky Link. “Kinh doanh của CDMA450 được thành công tại những thành phố đông dân như Moscow và St. Petersburg, cũng như tại những cộng đồng nông thôn nhỏ hơn tại những vùng khác của Nga”.
Ngày càng rõ ràng đối với các nhà khai thác tại mọi nơi trên thế giới là băng 450MHz cho một cơ hội to lớn để cung cấp có hiệu quả kinh tế những dịch vụ thoại và dữ liệu tiên tiến cho người tiêu dùng và doanh nghiệp tại những vùng đô thị lẫn nông thôn – đặc biệt khi công nghiệp di động tiến đến các mạng băng rộng nhiều Mbps đòi hỏi mỗi trạm gốc phải có dung lượng đường truyền ngược thật lớn.
Eduard Eck của Telefonica nhận xét: “Cung cấp phủ sóng băng rộng mở rộng với trạm gốc ít hơn đưa đến việc sử dụng trạm gốc tốt hơn và chi phí thấp hơn”.
Một điều quan trọng nữa để khai trương thành công một mạng CDMA450 là tạo khác biệt. Lodenius kết luận: “Nếu bạn tìm cách để đưa một điều gì đó mới và khác biệt cho khách hàng, và nếu bạn theo suốt điều đó, bạn sẽ thành công”.
CDMA2000 đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam
Mới đây, nhân chuyến làm việc tại VN, TS Chung Ming An, phó chủ tịch hiệp hội Phát Triển CDMA đã trò chuyện với PV của TGVT - PCW VN về các vấn đề liên quan CDMA.
Hiệp hội Phát Triển CDMA (The CDMA Development Group - CDG) đánh giá như thế nào về thị trường dịch vụ di động liên quan đến CDMA tại Việt Nam?
CDG vui mừng vì tăng trưởng quan trọng của CDMA tại Việt Nam. Điều này cho thấy tầm mức của khả năng dịch vụ mà CDMA2000 giúp thực hiện để cho phép các nhà khai thác CDMA tại thị trường mới nổi làm ăn phát đạt. Ngoài ra, lộ trình tiến hóa lên EV-DO Rev.A và B cũng giúp cho các nhà khai thác có khả năng mở rộng dung lượng mạng dựa trên nhu cầu thị trường – một thuận lợi đặc biệt cạnh tranh, trong dài hạn sẽ bảo đảm cho tăng trưởng mạnh mẽ tiếp tục của CDMA2000 trong khu vực.
Số thuê bao CDMA2000 đã tăng trưởng nhanh tại Việt Nam, tăng trên 230% trong năm 2007. Khả năng sử dụng của các ĐTDĐ dễ mua sắm và việc phổ biến những dịch vụ năng động mới được thực hiện bằng EV-DO đã làm cho 2 nhà khai thác CDMA lớn tại Việt Nam, S-Telecom (S-Fone) và EVN Telecom (E-Com/E-Phone/E-Mobile) trở thành những người dẫn đầu trong thị trường viễn thông di động cạnh tranh của khu vực.
Theo ông, S-Fone và EVN Telecom, 2 nhà khai thác CDMA tại Việt Nam đã thành công chưa?
S-Fone, mạng CDMA đầu tiên của Việt Nam, đã có sự thành công đáng kể do đầu tư của SK Telecom. Với các dịch vụ di động và WLL được sử dụng tại tất cả 64 tỉnh/thành của Việt Nam, mạng CDMA2000 của S-Fone hiện phục vụ 3,7 triệu thuê bao và họ đã trở thành nhà khai thác CDMA lớn nhất tại Việt Nam. Đã khai trương mạng băng rộng EV-DO tốc độ cao của mình tại 5 thành phố lớn, nhà khai thác này đang trên đường mở rộng tiếp cận băng rộng nhiều Mbps đến thị trường chưa khai thác của Việt Nam nơi chỉ có 3 triệu trong số 85 triệu dân cư có truy cập Internet băng rộng. Ngoài việc cung cấp truy cập Internet cho các bệnh viện và trường học, S-Fone sẽ cung cấp kết nối băng rộng đẳng cấp thế giới cho các doanh nghiệp khách hàng có nhu cầu cao của Việt Nam và con số doanh nghiệp vừa và nhỏ đang tăng của họ.
Năm 2005, EVN Telecom đã khai trương mạng CDMA2000 1X trong băng tần 450 MHz và hiện đang phục vụ trên 2,7 triệu thuê bao, làm cho họ trở thành mạng CDMA450 lớn nhất ngoài Trung Quốc. EVN Telecom đang tập trung quảng bá dịch vụ WLL trả sau của họ cho trên 78 triệu gia đình trong cả nước chưa được tiếp cận với dịch vụ điện thoại cố định truyền thống. Giống như S-Fone, nhà khai thác này cũng đang nâng cấp mạng CDMA450 của họ lên EV-DO để cung cấp cho dân chúng và các doanh nghiệp của Việt Nam các dịch vụ dữ liệu băng rộng tiên tiến.
Ông hy vọng gì ở công nghệ CDMA tại Việt Nam?
Các dịch vụ băng rộng di động CDMA2000 sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tạo ra thêm nhiều việc làm ở Việt Nam, thu hẹp khoảng cách số giữa những người có điều kiện tiếp cận các dịch vụ Internet tốc độ cao và những người chưa có cơ hội tiếp cận nó.
Số lượng người sử dụng CDMA tại Việt Nam có gây ấn tượng với ông không?
Như đã đề cập ở trên, từ cuối năm 2006 đến cuối năm 2007, số thuê bao CDMA tại Việt Nam đã tăng thêm hơn 230% từ 1,9 triệu lên 6,3 triệu. Tỷ lệ tăng trưởng này thật sự ấn tượng; dự kiến sẽ tiếp tục ấn tượng. Tôi cho rằng, số thuê bao CDMA tại Việt Nam sẽ tăng đến 10,5 triệu trước cuối năm 2008 và 15,5 triệu trước cuối năm 2009. Nói chung, khu vực châu Á - Thái Bình Dương đóng vai trò chủ đạo trong triển khai CDMA toàn cầu, chiếm đến 49% số lượng triển khai CDMA2000 của toàn thế giới.
Tính đến tháng 9 năm 2007 , trên thế giới đã có gần 500 triệu thuê bao CDMA 2000 1X&EV-DO trải rộng ở 99 quốc gia và lãnh thổ .Trong đó khu vực Châu Á Thái Bình Dương là khu vực phát triển năng động nhất và chiếm đến 49% tổng lượng các thuê bao .
Các thị trường mới nổi như Ấn Độ và Indonesia đã có những bước phát triển đáng khích lệ .Ở Ấn Độ ,giá cả các thiết bị đầu cuối CDMA đã rẻ hơn các thiết bị của GSM ,thậm chí đã có máy đầu cuối với giá 19 USD với nhiều ứng dụng BREW .Có tới 60 nhà phát triển các ứng dụng cho di động dựa trên nền BREW ở Ấn Độ ,trong đó Tata là nhà cung cấp thuộc TOP 5 trong nước và TOP 10 các nhà operator 3G CDMA trên thế giới . Ở Indonesia ,đã có tới 6 nhà cung cấp dịch vụ CDMA200 với tổng cộng 14 triệu thuê bao ( tăng 75%) .
Đáng kế nhất là CDMA ở Trung Quốc, thị trường lớn nhất Châu Á với nhà cung cấp China Unicom đang triển khai các dịch vụ giá trị gia tăng CDMA hiệu quả trên nền BREW với tên gọi riêng ở Trung Quốc là U-magic.CÁc dịch vụ VAS đang triển khai ở Trung Quốc rất đa dạng như MObile Stock,Music and ring tone, Offline Game,Online Game ,Mobile TV,Picture and cartoon ,life and Entertainment,Enterprise application....
Qualcomm cũng đã thông báo về việc sản xuất 1 chip CDMA chung cho cả hai hệ thống CDMA 450 Mhz và 800 MHz .
Theo điều tra nghiên cứu độc lập của GfK ,một tổ chức nghiên cứu uy tín ,số lượng thuê bao CDMA ở Việt Nam trong năm 2007 đã phát triển tăng 216% .Trong đó chủ yếu là các thuê bao của S-Fone và EVN Telecom.Tình hình xin chuyển sang GSM của HT Mobile vào cuối tháng 12 vừa qua ảnh hưởng không đáng kể đến sự phát triển của CDMA Việt Nam bởi thuê bao thực của HT Mobile chỉ dưới 200 ngàn .
Cũng trong buổi họp báo sáng nay ,các ông Đổ Văn Quất , Hồ Hồng Sơn đại diện cho S-Fone , ông Nguyễn Thanh Hải ,đại diện EVN Telecom đã trả lời thẳng thắng và chi tiết các thắc mắc ,hỏi đáp của các phóng viên đại diện cho hơn 35 tờ báo,hãng thông tấn Việt Nam . didongCDMA.com sẽ trình bày chi tiết hơn về các vấn đề này trong diễn đàn .
S-Fone: nói về CDMA
Sau sự kiện HT Mobile công bố chuyển sang GSM , báo Thế Giới Vi Tính đã có cuộc trao đổi với ông Hồ Hồng Sơn, giám đốc điều hành trung tâm ĐTDĐ CDMA (S-Telecom) để có thêm thực
Với cương vị là nhà khai thác CDMA đầu tiên trong nước, ông nghĩ sao về sự kiện HT Mobile chuyển sang sử dụng công nghệ GSM?
Việc HT Mobile xin chuyển đổi công nghệ đã và đang đặt ra những ý kiến khác nhau về công nghệ CDMA. Cùng triển khai công nghệ CDMA tiên tiến tại thị trường Việt Nam, chúng tôi đồng cảm với HT Mobile về những khó khăn mà một nhà khai thác mạng ứng dụng công nghệ mới chắc chắn sẽ gặp phải, đó là khó khăn của “người mới đến”. Với việc HT Mobile được cho phép chuyển sang e-GSM vừa qua, thị trường viễn thông hiện nay còn lại 2 mạng cùng sử dụng công nghệ CDMA là S-Fone và EVN Telecom. Sự thay đổi này chắc chắn có ảnh hưởng đến sự phát triển của thị trường viễn thông di động nói chung và các nhà khai thác mạng di động CDMA tại Việt Nam nói riêng.
Tuy nhiên, cho đến nay S-Fone vẫn tiếp tục phát triển mạnh mẽ, luôn là mạng di động CDMA lớn nhất Việt Nam, tiên phong trong việc khai thác và triển khai những ứng dụng trên nền công nghệ CDMA theo chuẩn 3G với nhiều dịch vụ như Live TV – xem truyền hình trực tuyến trên ĐTDĐ, VOD – xem phim trực tuyến, MOD – nghe nhạc trực tuyến và Internet Di Động.
Công nghệ CDMA với hai hướng chính là CDMA 2000 1x EVDO và W CDMA (HSDPA), tuy là công nghệ mới, đang trong giai đoạn phát triển cả về hệ thống mạng, số lượng nhà khai thác và số thuê bao, nhưng là công nghệ thế hệ 3G với ưu thế vượt trội về băng thông rộng và tốc độ truyền dữ liệu cao, do đó CDMA là công nghệ có thể cung cấp dịch vụ viễn thông di động, thoại và phi thoại (dịch vụ dữ liệu) cho khách hàng và đương nhiên công nghệ CDMA sẽ ngày càng phát triển, nhanh chóng chiếm vị trí chủ đạo trong thời gian tới. Bên cạnh đó, xu thế tất yếu là nhu cầu của người tiêu dùng sẽ ngày càng nâng cao, không chỉ dừng lại ở việc sử dụng dịch vụ di động chỉ để nghe/gọi và nhắn tin thông thường. Chính xu thế này sẽ đảm bảo cho sự phát triển của công nghệ hiện đại CDMA nói chung và S-Fone nói riêng.
Kết quả kinh doanh của S-Fone năm 2007 như thế nào? Kế hoạch phát triển kinh doanh năm 2008 của S-Fone?
Năm 2007 là một năm thành công của S-Fone về mọi mặt. Một số thành tựu nổi bật của S-Fone trong năm vừa qua gồm: đạt 3,5 triệu thuê bao tích lũy, hoàn thành mục tiêu trong năm 2007; liên tục ra mắt các gói cước mới phục vụ cho nhiều phân khúc thị trường khác nhau; đưa hàng loạt các trung tâm dịch vụ khách hàng hiện đại, đa chức năng đi vào hoạt động tại các thành phố kinh tế trọng điểm trên cả nước; đẩy mạnh phát triển các dịch vụ giá trị gia tăng cao cấp theo chuẩn 3G. Đặc biệt, theo kết quả hiệu chỉnh của cục Quản Lý Chất Lượng BCVT & CNTT, S-Fone được khẳng định là mạng di động có tỷ lệ cuộc gọi được thiết lập thành công gần như tuyệt đối, cao nhất trong số các mạng di động hiện nay, đạt 99,82%.
Với việc triển khai các dịch vụ giá trị gia tăng tiêu biểu 3G như xem truyền hình trực tuyến, xem phim/ nghe nhạc theo yêu cầu và Internet di động, S-Fone đã được liên hiệp các hội Khoa Học và Kỹ Thuật Việt Nam và trung tâm Nghiên Cứu Ứng Dụng Phát Triển Thương Hiệu Việt trao giải thưởng sản phẩm/dịch vụ thương hiệu Việt hội nhập WTO và cúp vàng chất lượng hội nhập cho nhóm dịch vụ cao cấp công nghệ 3G vào ngày 9/9/2007.
Trong năm 2008, S-Fone đã có kế hoạch đầu tư 100 triệu USD để tăng mật độ phủ dày của vùng phủ sóng và đầu tư nghiên cứu phát triển các dịch vụ GTGT. Theo đó, trên 700 trạm BTS sẽ được S-Fone xây lắp mới trong năm. Đồng thời, kế hoạch nghiên cứu triển khai các dịch vụ GTGT cao cấp, khác biệt, hấp dẫn trên nền công nghệ 3G sẽ được đẩy mạnh hơn nữa nhằm mang lại sự hài lòng cao nhất cho khách hàng về dịch vụ thông tin di động. Cụ thể, để nâng cao tính cạnh tranh và tạo ra sự độc đáo, khác biệt với những nhà cung cấp khác, chúng tôi vẫn tiếp tục đầu tư khai thác triệt để những tiện ích hiện đại trên nền công nghệ CDMA EV-DO 2000 1x theo chuẩn 3G như: tin MMS (Multi-Media-Service), Mobile-Payment (thanh toán qua ĐTDĐ), Location Service (dịch vụ xác định địa điểm)... Bên cạnh đó, chúng tôi cũng có kế hoạch triển khai những dịch vụ GTGT trên nền giải pháp BREW với sự hợp tác của Qualcomm để đưa thêm nhiều dịch vụ GTGT gắn với dòng máy di động cấp trung và cấp thấp.
3,5 triệu thuê bao vào năm 2007 có phải là con số mong muốn của S-Fone sau 4 năm hoạt động? Theo ông, S-Fone đã và đang gặp phải những trở ngại gì?
Với con số 3,5 triệu thuê bao tích lũy đạt được vào cuối năm 2007, có thể nói S-Fone đã hoàn thành xuất sắc mục tiêu kinh doanh đã đề ra trong năm. Con số này không chỉ thể hiện sự tăng trưởng vượt bậc của S-Fone mà còn thể hiện sự tin tưởng của khách hàng dành cho công nghệ CDMA tiên tiến và các dịch vụ giá trị gia tăng hiện đại, tiện ích trên nền công nghệ này. Hơn nữa, con số này còn minh chứng cho chiến lược phát triển đúng đắn của S-Fone trong suốt thời gian qua.
Tuy nhiên, chúng tôi cũng đã và đang đối mặt với những khó khăn và thách thức của một nhà khai thác tiên phong về công nghệ, và đó cũng là khó khăn chung của các mạng CDMA như: khó khăn của “người mới đến” trong một thị trường bị “khống chế” bởi các “đại gia” là doanh nghiệp nhà nước với hạ tầng viễn thông có sẵn, ngoài ra còn phải giải quyết các khó khăn “khác biệt” như: khó khăn về kết nối (roamming) trong, ngoài nước, phải “tự” cung cấp thiết bị đầu cuối cho thị trường trong điều kiện giá nhập khẩu cao và khan hiếm nguồn cung…
Do vậy, bên cạnh những nỗ lực của doanh nghiệp, chúng tôi cũng rất cần đến sự quan tâm, ủng hộ của các cơ quan nhà nước thông qua những chính sách điều tiết vĩ mô hợp lý, nhằm giảm bớt một phần khó khăn cho doanh nghiệp trong tình hình cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay, tạo sự phát triển cho S-Fone nói riêng và xu hướng phát triển công nghệ mới nói chung. Với những nỗ lực không ngừng của S-Fone cũng như với chiến lược kinh doanh đúng đắn và kiên định với mục tiêu đề ra, chúng tôi hoàn toàn tin tưởng rằng S-Fone sẽ đạt được những bước tiến xa hơn nữa tại thị trường còn nhiều tiềm năng phát triển như Việt Nam.
Hiện đâu là những lợi thế của S-Fone? Nói rộng ra, đâu là những lợi thế chính của CDMA tại Việt Nam?
Có thể thấy rằng thế mạnh của CDMA chính là tốc độ truyền dữ liệu cao và các dịch vụ GTGT cao cấp. Với những ưu thế vượt trội của công nghệ này, S-Fone đã nghiên cứu và giới thiệu ra thị trường các dịch vụ GTGT tiên tiến như xem truyền hình trực tuyến (Live TV), xem phim/nghe nhạc theo yêu cầu (VOD/MOD) và đặc biệt là Internet di động đã giúp thuê bao khai thác hết các tiện ích của chiếc điện thoại di động bên cạnh tính năng nghe gọi thông thường, đồng thời đem lại hình thức giải trí cho khách hàng hòa mạng S-Fone.
CDMA 2000 1x EV-DO là tiêu chuẩn truyền dữ liệu băng rộng vô tuyến cho các thiết bị không dây, cho phép tốc độ truyền dữ liệu lên đến 2,4 Mbps nhanh gấp 46 lần so với công nghệ GPRS mà các mạng GSM trong nước đang sử dụng; cho phép triển khai một loạt dịch vụ GTGT liên quan đến dữ liệu đòi hỏi đường truyền tốc độ cao; chất lượng âm thanh được cải thiện tốt hơn, cho phép nhà cung cấp dịch vụ viễn thông triển khai các hệ thống mạng tiên tiến với các ứng dụng thoại, và truyền nhận dữ liệu băng thông rộng trên ĐTDĐ thay thế dần các hệ thống mạng chuyển mạch tương tự truyền thống băng thông thấp đang lỗi thời. Đặc điểm nổi bật nhất của mạng 3G là khả năng hỗ trợ một lượng lớn các khách hàng trong việc truyền tải âm thanh và dữ liệu – đặc biệt là ở các vùng đô thị - với tốc độ cao hơn và chi phí thấp hơn.
Theo tôi, chúng ta không nên lấy sự khác biệt giữa hai nền công nghệ CDMA và GSM l&agrav